Shopping Cart Items: 0   Sub-Total : US$0.00

Đọc sách hay cũng như trò chuyện với các danh nhân tuyệt vời nhất từ những thế kỷ trước.

The reading of all good books is like a conversation with the finest minds of past centuries.
(Rene Descartes)

Welcome, Guest ( Login )

Về Lại Biển Đông cúng vong người chết, nhớ người sống

July 25 2018

Lời Nhà Xuất Bản:

"Về lại Biển Đông cúng vong người chết, nhớ người sống" là một trong những bài nằm trong tập KÝ III của tác giả Đinh Quang Anh Thái dự định cho ra đời trước tháng Tư 2019 sau khi ông cho quyển KÝ II ra đời vào cuối năm 2018. Đọc Ký của Đinh Quang Anh Thái, độc giả được ông chia sẻ những gì ông đã trải nghiệm mà trong đó có lúc độc giả có thể sẽ nhận ra chính mình...

Xin đón đọc (đã xuất bản), KÝ II (xuất bản cuối năm 2018), KÝ III (xuất bản trước tháng Tư 2019)

=============


Về lại Biển Đông cúng vong người chết, nhớ người sống.

 

Đinh Quang Anh Thái

 

Với nhiều người Việt hiện nay đang tỵ nạn rải rác tại nhiều quốc gia trên thế giới, Biển Đông là ám ảnh của nỗi chết và cũng là cửa ngõ của tái sinh.

Kể từ biến cố 30 tháng Tư năm 1975, Biển Đông đã vùi chôn bao nhiêu thân xác những người lao mình vào sóng dữ để trốn chạy một chế độ tàn bạo.

Và nếu thoát, thì Biển Đông cũng là hải trình đến cửa Tự Do.

Tự Do, niềm khao khát sục sôi của nhân loại. Nhất là với dân tộc Việt Nam.

Những người may mắn đến được bến bờ, ngày rời đảo tỵ nạn đi định cư tại các nước thứ ba, mấy ai dám nghĩ, sẽ có lúc trở về thăm lại nơi từng dung chứa mình những ngày đầu hít thở không khí Tự Do.

Vậy mà nhiều người đã trở lại.

Sáng 20 tháng Ba 2005, mặt trời vừa nhú trên biển, một buổi lễ cầu siêu do Hoà Thượng Thích Giác Nhiên chủ trì được tổ chức trang nghiêm trên bờ biển Merang-Malaysia. Sau đó, mọi người lên hai con tầu hướng ra khơi để bắt đầu chuyến đi cầu vong cho những người thác oan trên đường tìm kiếm Tự Do.

Từng đợt sóng cao nhồi con tầu, có lúc tung con tầu lên cao rồi đập mạnh xuống mặt biển. Đã có người nôn thốc nôn tháo, mặt tái xanh như tầu lá.

Bốn giờ đồng hồ hải hành, tầu ra gần tới hải phận quốc tế. Các Tăng Ni cùng các Phật tử bắt đầu nghi thức cầu siêu. Nhìn quanh, nhiều người nước mắt dàn dụa. Biển xanh đen, sóng lắc con tầu nghiêng ngả, y như ngày nào đối diện cái chết trên Biển Đông. Từng cánh hoa được thả xuống biển, một nghĩa cử tượng trưng lòng nhớ thương người khuất mặt. Tiếng gõ mõ tụng kinh lẫn vào tiếng sóng, trong khi hàng trăm quả bong bóng đủ mầu được thả lên trời, những mong sao các oan hồn tức tưởi sớm siêu thoát.

Mặt trời vừa dịu nắng, hai chiếc tầu chở đoàn người ra biển cầu siêu về bến lúc sập tối.

Mười một giờ đêm, trời tối mịt, biển gào thét. Trong bối cảnh đó, Linh mục Nguyễn Hữu Quảng cử hành thánh lễ cầu siêu theo nghi thức Công Giáo bên trong hội trường của khách sạn nơi mọi người ngụ. Ngoài bờ biển, 30 Tăng Ni và cả trăm Phật tử cầu siêu theo nghi thức Phật Giáo.

Gió giật từng cơn khiến hàng nến lúc tỏ lúc mờ. Gió cũng làm những nén nhang lập lòe huyền bí.

Tiếng chuông mõ lẫn trong tiếng sóng xô vào bờ, từng đợt pháo bông phụt lên trời, ánh sáng xanh lóe lên rồi lịm tắt, như một lời nhắc nhớ những đêm nào lênh đênh trên biển, những phận người đi tìm đất sống đã đốt các đống quần áo trộn với dầu để hy vọng ánh sáng sẽ đánh động lương tâm thủy thủ đoàn của các thương thuyền tại hải phận quốc tế dừng lại cứu vớt.

Một tiếng nói phụ nữ thì thầm trong đám đông yên lặng:

"Phải tin có linh hồn. Chính tai tôi và nhiều người trên cùng tầu với tôi khi vượt biên đã nghe tiếng than khóc vọng từ đáy biển. Tôi tin là những người thác oan đã cứu chúng tôi".

Chín giờ sáng ngày 21 tháng Ba, hơn 150 người đến từ Úc, Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp, Thụy Điển nôn nóng chờ đợi tại bến tầu Merang thuộc tiểu bang Terangganu-Mã Lai Á, mong con nước lên để xuống phà ra khơi thăm đảo Bidong.

Chuyến đi được đặt tên là "Về Bến Tự Do" và do ông Trần Đông, kỹ sư điện toán hiện ở Úc và cũng là sáng lập viên Archive of Vietnamese Boat People cùng với Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Pháp chủ Giáo hội Tăng già Khất sĩ Thế giới, phối hợp tổ chức. Phái đoàn gồm có khoảng 30 Chư Tôn Đức Phật giáo, trong số đó có tám vị sư từ Việt Nam sang, Linh mục Nguyễn Hữu Quảng ở Úc, và những người hầu hết từng xuất thân ở hai trại tỵ nạn Bidong-Mã Lai Á và Galang-Nam Dương. Đặc biệt có sự tham dự của ba Soeur Công giáo, là những người đã từng làm thiện nguyện nhiều năm giúp nguời tỵ nạn tại Biđong.

Như một trùng hợp ngẫu nhiên đến lạnh người, mười một giờ con nước vẫn chưa lên. Mười hai giờ con nước vẫn còn thấp. Hai chiếc tầu lớn không thể nào rời bến. Tâm lý chờ chực nhắc nhớ mọi người những giây phút âu lo chờ "cá nhỏ” để lên "cá lớn” như ngày nào đành đọan phải bỏ nuớc ra đi.

Mọi người chuyện trò râm ran, nhưng nội dung chỉ xoay quanh những kinh nghiệm hãi hùng của những ngày vượt biển.

Anh Lê Quang Nghĩa, phóng viên Đài Á Châu Tự Do, giọng nói sũng nước mắt:

"Tôi khóc suốt đêm hôm qua vì nhớ con gái. Cháu mất trên biển lúc cháu vừa 9 tuổi. Trên bàn thờ ở nhà, mỗi khi cúng giỗ, nhìn di ảnh cháu là cả nhà òa khóc. Cô ruột của cháu cũng bỏ mình trong chuyến đi đó".

Cô Huỳnh Mộng Châu, lúc đến Bidong năm 1983 mới được 13 tuổi. Cô nói, giọng xa vắng:

"Tầu có hơn 200 người. Sau 22 ngày trôi dạt trên biển, không còn nước uống, cạn thực phẩm, trẻ em và phụ nữ kiệt sức dần, và bắt đầu có người chết. Có em bé vục mặt chết ngay đáy khoang tầu. Xác những người xấu số bị ném xuống biển. Làm sao em quên đuợc những ngày hãi hùng đó. Cuộc ra đi đã thay đổi em hoàn toàn, và suốt phần đời còn lại, em sẽ không còn được niềm vui nào trọn vẹn, cũng chỉ vì những ám ảnh không rời của tuổi 13".

Chuyện của người nào nghe cũng nát lòng, như bản du ca cuối cùng của những phận người đi tìm đất sống.

Chờ mãi con nước vẫn chưa lên đủ để tầu lớn có thể rời bến ra khơi. Ban tổ chức quyết định đưa tầu ra khỏi cửa biển và chỉ chở theo một số ít người nhằm tránh cho tầu bị mắc cạn vì sức tải quá nặng. Số người còn lại lên hai tầu nhỏ và được chuyển sang tầu lớn nơi cửa biển.

Có khác gì cảnh vượt biển trước kia?

Gần ba giờ chiều, tầu đã đến Bidong nhưng vẫn không cập được vào bến, chỉ vì con nước vẫn còn thấp. Thế là từng 10 người một xuống xuồng nhỏ để vào bờ.

Bidong trông sao mà tiêu điều, vắng lặng, khác hẳn thời còn thuyền nhân tạm dung để chờ ngày lên đường định cư. Chiếc cầu Jetty xưa kia đón nhận những người mới đến và chứng kiến người đi định cư, nay đã xập một đoạn dài, phần còn lại ọp ẹp tròng trành vì sóng nước. Bãi biển Bidong vẫn còn xác của con tầu sắt sừng sững ngày nào nhưng nay đã hen rỉ, phần mũi tầu trồi lên mặt cát, đuôi tầu ló lên tận bên trong những bụi cây rậm rạp của đảo.

Nhiều người đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy cảnh cũ hoang tàn đỗ nát như thế.

Hầu như Bidong chỉ còn rừng cây mọc chằng chịt và bãi cát trắng nguyên vẹn như ngày xưa. Những barrack từng là chốn nương thân của người tỵ nạn, nay chỉ còn vài ba cái đã đổ nát, mục rữa, chung quanh cỏ mọc xanh rì. Khu văn phòng Cao uỷ Tỵ nạn Liên hiệp Quốc cũng chung một số phận. Vì kể từ khi thuyền nhân cuối cùng rời đảo đi định cư vào tháng 11 năm 1990, Bidong đã trở thành đảo hoang, thỉnh thoảng mới có ngư dân ghé vào đảo để tránh bão.

Tại Đồi Tôn Giáo nhìn ra biển, khung cảnh gây nát lòng cho những người từng sống ở Bidong. Nhà thờ Công Giáo không còn gì ngoài cây Thánh Giá trắng trên bức tường úa màu thời gian; nhà thờ Tin Lành cũng vậy, thậm chí không còn biểu tượng của Đấng Cứu Thế; khu thờ tự của Đạo Cao Đài chỉ còn lại dấu vết một tấm bảng chữ còn chữ mất; và Chùa Từ Bi thì thật thảm thương: nóc chùa bị tróc, bảng chùa rơi nghiêng xuống đất chỉ còn dính lơ lửng vào một cột chùa, tất cả tượng Phật Bà Quan Am, tượng Đấng Chí Tôn đều bị kẻ ác chặt mất đầu.

Còn chăng chỉ là những tấm bảng khắc nghuệch ngoạc trên đá với nội dung tạ ơn Đức Mẹ, tạ ơn Phật Bà Quan Âm. Dù vậy, sóng biển, gió núi cũng làm hoen mờ những lời bầy tỏ lòng thành kính biết ơn của những người may mắn đặt chân đến bến bờ Tự Do.

Đứng trước cảnh hoang phế của Đồi Tôn Giáo, anh Nguyễn Hoàng Dũng, đến từ miền Nam California nói trong nỗi ngậm ngùi:

"Vào lúc cao điểm của làn sóng tỵ nạn, khoảnh núi nhỏ bé này đã là nơi dung chứa gần 60 ngàn thuyền nhân. Tôi từng quanh quẩn ở khu này nhiều tháng trời trước khi rời đảo. Buồn lắm, vì mình đi được trong khi nhiều người vùi thây dưới biển sâu. Và nhớ lắm, những người đã có thời chia nhau những vui buồn đời tỵ nạn".

Nằm về phiá vùng duyên hải phía Đông của Mã Lai Á, cách bờ biển của bang Terangganu khoảng 30 cây số đường chim bay, không phải bây giờ Bidong mới là hoang đảo. Trước tháng Tư năm 1975, Bidong cũng không hề có người lai vãng. Họa hoằn mỗi khi sóng to biển dữ, dân đánh cá bản xứ mới tắp vào tránh gió bão.

Chính người tỵ nạn Việt Nam đã đem sinh khí đến cho đảo. Đợt thuyền nhân đến đảo đầu tiên là năm 1975, lúc cộng sản vừa cưỡng chiếm miền Nam. Sau đó, làn sóng liều chết ùa ra Biển Đông để tìm Tự Do ngày càng nâng cao số người đến Bidong khiến chính phủ Mã Lai Á phải quyết định biến hòn đảo này thành nơi dung chứa người tỵ nạn, và đồng thời cấm dân bản xứ lai vãng. Cao điểm của làn sóng thuyền nhân đến Bidong là khoảng thời gian từ năm 1978 đến 1990, với số người lần lượt đến đảo tạm dung rồi đi định cư là 245,513 người, trong đó có trên 4,000 trẻ chào đời tại đây.

Chính phủ Mã Lai Á tuyên bố đóng cửa trại tỵ nạn Bidong vào tháng 11 năm 1990, khi thuyền nhân cuối cùng giã từ cầu Jetty để lên đường định cư tại các quốc gia thứ ba. Từ đó cho đến tháng 9 năm 2004, chính phủ Mã Lai Á mới có ý định phát động kế hoạch bảo tồn hòn đảo này như một di tích của người tỵ nạn Việt Nam.

Đích thân Thủ hiến tiểu bang Terangganu đã đến thăm đảo, và sau đó ký sắc lệnh thành lập Bidong Heritage Fund nhằm vạch ra kế hoạch bảo tồn những di tích của người tỵ nạn và phát triển hòn đảo trở thành nơi du lịch. Hiện nay, chính phủ Mã Lai Á đang kêu gọi các tổ chức tư nhân và người Việt từng tỵ nạn tại Bidong góp tay để tiến hành các kế hoạch nói trên.

Sau bữa cơm trưa theo lối dã chiến vào lúc 3 giờ chiều, hai nghi lễ tôn giáo đã được tổ chức ở Đồi Tôn Giáo để cầu siêu cho những người chết oan khuất trên đường vượt biển.

Các Tăng Ni và Phật tử làm lễ tại ngôi chùa Từ Bi đổ nát, cùng lúc với thánh lễ do Linh mục Nguyễn Hữu Quảng chủ trì tại nhà thờ Công Giáo xiêu vẹo. Sau đó là lễ cắt băng khánh thành tấm bia bằng đá, trên có khắc hình hai bàn tay nhô lên mặt biển vói ngọn đuốc Tự Do và giòng chữ viết bằng tiếng Anh, nội dung tri ân Liên Hiệp Quốc, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, Hội Lưỡi Liềm Đỏ Mã Lai Á và chính phủ các nước đã cưu mang giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam.

Một viên chức đại diện chính phủ tại Terrangganu đã cùng Hòa Thượng Thích Giác Nhiên và Linh mục Nguyễn Hữu Quảng cắt băng khánh thành tượng đài trong tiếng pháo đốt mừng.

Với sự có mặt đông đảo của báo chí người bản xứ và các cơ quan truyền thông như SBS, BBC, RFA, Little Saigon Radio, tuần báo Việt Tide, New Saigon Radio, Little Saigon TV, VNTV, tin tức về chuyến đi về Biển Đông đã được đăng tải chi tiết trên báo chí địa phương cũng như tường thuật đầy đủ tại nhiều quốc gia. Mọi diễn tiến và sắp xếp đều do công của ban tổ chức, đặc biệt là của ông Đông Trần và Hòa Thượng Thích Giác Nhiên.

Mặt trời sắp lặn, mà nhiều người vẫn không nỡ rời cầu tầu Jetty. Phát ngôn viên của ban tổ chức là anh Quốc Việt, dù hiểu tâm trạng lưu luyến đó, vẫn phải gắt lên thì mọi người mới chịu lên tầu rời Bidong để kịp về Merang dự buổi tiếp tân do các viên chức cao cấp của tiểu bang Terangganu khoản đãi.

Ngày mai em đi

Biển nhớ tên em gọi về...

 

Xin đón đọc phần còn lại trong KÝ III

Comments

Leave a comment
Please enter the code shown into the box below
Code Image - Please contact webmaster if you have problems seeing this image code Load new code

Mini Cart

Your Cart Is Empty

Featured Products

Tìm theo giá BROWSE BY PRICE

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
0 Item(s)
US$0.00